Sơ lược thành tựu công nghiệp Tp.HCM sau 25 năm đổi mới
10:11 (24/10/2011)

Congthuonghcm.vn - Khi Nghị quyết Đại hội VI của Đảng được thực hiện bắt đầu mở ra các yếu tố ban đầu của đổi mới về kinh tế. Từ đó sự chuyển biến từ nhận thức lý luận đến thể nghiệm các mô hình kinh tế của nền sản xuất hàng hóa nhiều thành phần và những biện pháp tiếp theo của Nhà nước về các mặt tài chính, tái cấu trúc ngân hàng, tập trung chức năng quản lý Nhà nước, thành lập hệ thống ngân hàng thương mại kèm theo các chính sách ổn định và kiểm soát lạm phát đã giúp nền kinh tế xoay chuyển thoát khỏi tình trạng trì trệ khó khăn. Tp. Hồ Chí Minh là địa phương đi đầu trong tiến trình phát triển nền sản xuất hàng hóa với sự góp mặt của nhiều thành phần, giảm thiểu bao cấp đối với hoạt động sản xuất kinh doanh.


            Ngày 18/1/1989, Tp. Hồ Chí Minh ra Quyết định 27/QĐ-UB về hướng dẫn thực hiện đăng ký kinh doanh với các hộ kinh tế tư nhân. Sau đó, ngày 26/10/1989 UBND Thành phố ra Quyết định 639/QĐ-UB về quy định mức vốn tối thiểu khi thành lập xí nghiệp, công ty tư nhân trước khi Quốc hội thông qua Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty ngày 21/12/1990.

            Số lượng doanh nghiệp tăng nhanh, năm 1990 Thành phố đã có trên 30% số lượng doanh nghiệp so với cả nước và 30% số vốn đầu tư của khu vực doanh nghiệp so với cả nước. Hoạt động sản xuất công nghiệp đã bắt đầu có những bước tiến tích cực về sản lượng, chất lượng hàng hóa, đem lại làn gió mới cho lực lượng lao động và nhu cầu về lao động cũng tăng, bắt đầu tiếp nhận người lao động từ các địa phương khác vào các khu công nghiệp, khu chế xuất của Thành phố.

             Mô hình Khu chế xuất và Khu công nghiệp tập trung là nơi tích tụ và tập trung vốn ở mức cao; sức bền vững và lan tỏa lớn, hiệu quả kinh tế và năng suất lao động tăng, thu hút lao động tăng. Thành công có ý nghĩa lớn nhất của công nghiệp Thành phố là đã góp sức cùng cả nước hình thành nền sản xuất hàng hoá nhiều thành phần, mở đường đi vào cơ chế kinh tế thị trường. Trong 35 năm xây dựng và phát triển ngành công nghiệp Thành phố đã đi lên từ những khó khăn của cơ chế kế hoạch, bao cấp, khoác diện mạo mới thúc đẩy phát triển kinh tế toàn diện, đem thêm công nghệ mới, tiêu chuẩn mới để đạt được những lợi ích cao nhất.

            Bình quân giai đoạn 1976 – 1985, tỷ trọng công nghiệp quốc doanh chiếm 70-75% và tỷ trọng kinh tế tập thể chiếm hơn 31% giá trị tổng sản lượng công nghiệp. Giá trị gia tăng trong sản xuất công nghiệp thời kỳ này tăng 5,8% năm nhưng do chỉ chiếm khoảng 26 – 30% giá trị tổng sản phẩm nội địa nên đóng góp của công nghiệp vào tăng trưởng kinh tế không cao.

            Giai đoạn 1986 – 1990: Đây là thời kỳ Thành phố Hồ Chí Minh cùng cả nước tiến hành công cuộc đổi mới. Nửa cuối thập niên 1980 này là thời kỳ cả nước thực hiện những đợt sóng cải cách kinh tế mạnh mẽ.

            Đánh giá đúng thực trạng kinh tế - xã hội của đất nước, Đại hội VI của Đảng vào cuối năm 1986 đề ra đường lối đổi mới toàn diện, đồng bộ và mạnh mẽ nhằm ổn định mọi mặt tình hình kinh tế xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hoá và thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần. Nghị quyết Đại hội VI cũng khẳng định hình thành nền kinh tế sản xuất hàng hóa với cơ cấu nhiều thành phần, có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ đi lên sản xuất lớn XHCN và thể hiện tinh thần dân chủ về kinh tế, đảm bảo cho mọi người làm ăn theo pháp luật.

            Tuy nhiên do những sai lầm của chính sách “giá, lương, tiền” dẫn đến lạm phát phi mã ở mức 3 con số trong những năm 1986, 1987 và 1988, do những chính sách kinh tế “mở cửa” và các chương trình kinh tế lớn chưa có đủ thời gian để phát huy tác dụng, mức tăng trưởng kinh tế có chậm lại trong thời kỳ này. Tốc độ tăng trưởng công nghiệp lại quay trở lại thời kỳ 1976 – 1980 là 6%/năm.

            Nhưng với xu thế tăng trưởng, đến năm 1990 tỷ trọng công nghiệp trong GDP Thành phố tiếp tục tăng lên 42% trong khi các lĩnh vực khác như dịch vụ, nông, lâm, ngư nghiệp lại giảm.

            Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra trong nội bộ khu vực công nghiệp của Thành phố mạnh mẽ. Công nghiệp chế biến tăng trưởng ở mức độ 6,3%/năm và tỷ trọng trong GDP tăng từ 30% năm 1985 lên gần 36% năm 1990. Đặc biệt, hoạt động sản xuất và phân phối điện, nước, khí đốt vẫn tiếp tục tăng trưởng ở mức độ cao ở mức 8,5%/năm.

Biểu đồ tăng trưởng GDP một số ngành công nghiệp giai đoạn 1986-1990


            Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành vào cuối năm 1987 đã tạo cho Tp. Hồ Chí Minh khả năng khai thác một nguồn lực mới cho việc phát triển, nhất là trong lĩnh vực công nghiệp. Số lượng đầu tư nước ngoài vào Thành phố cũng tăng lên nhanh chóng, trong vòng 3 năm – từ 1988 đến 1990 đã có 88 giấy phép được cấp với tổng vốn đầu tư là 976 triệu USD. Lượng vốn này đã tạo thêm một khu vực kinh tế nữa, gọi là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm các doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.

            Năm 1988, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành các Nghị định 27, 28 và 29/HĐBT, trong đó đưa ra các quy định đối với kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh, kinh tế tập thể và kinh tế gia đình trong hoạt động sản xuất vật chất và dịch vụ. Sự phát triển của kinh tế tư nhân còn được đánh dấu bằng sự ra đời của Nghị định 193/HĐBT về bảo hộ quyền kinh doanh hợp pháp. Đồng thời, các hoạt động sản xuất hàng hóa cho xuất khẩu trong khu vực tư nhân và quan hệ mậu dịch với các đối tác nước ngoài cũng được hợp thức hóa làm tăng năng lực trong sản xuất hàng hóa.

            Giai đoạn 1991 – 2000 : Thời kỳ này có mức tăng trưởng với tốc độ cao tuy vẫn nhiều yếu kém trong cơ cấu kinh tế. Từ đầu thập niên 1990, chính sách thuế luôn được thay đổi để phù hợp thực trạng kinh tế cả nước. Thêm vào đó Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty ra đời 21/12/1990 cũng tác động đến sự tăng trưởng trong lĩnh vực công nghiệp với sự ra đời của nhiều doanh nghiệp với các sản phẩm, hàng hóa mới mẽ, trước đây không có.

            Trong các khu vực kinh tế, ngành công nghiệp thời kỳ này có mức tăng trưởng cao nhất. Các chính sách cải cách kinh tế thời kỳ 1986 – 1990 về giá cả, thuế, tài chính và ngoại thương bắt đầu có tác dụng. Tốc độ tăng trưởng GDP công nghiệp bình quân thời kỳ 1991 – 1995 là 16,6%, chiếm tỷ trọng 42% trong cơ cấu GDP vào năm 1995. Thế mạnh của công nghiệp Tp. Hồ Chí Minh là chế biến, tăng trưởng với tốc độ 17%/năm trong cùng thời kỳ và cùng với ngành sản xuất – phân phối điện, nước và khí đốt chiếm gần 30% giá trị tổng sản lượng công nghiệp của cả nước. Trong giai đoạn này, các sản phẩm công nghiệp của Thành phố ngày càng đa dạng với mẫu mã, bao bì và chất lượng trở nên tốt hơn. Nhiều sản phẩm công nghiệp chế biến không những đáp ứng được nhu cầu cho Thành phố mà còn được tiêu thụ ở các tỉnh, thành trong cả nước kể cả phục vụ xuất khẩu. Tỷ trọng hàng công nghiệp chế biến trong xuất khẩu tăng từ 20,4% năm 1991 lên 48,4% năm 1995.

            Việc chuyển đổi trọng tâm trong chính sách công nghiệp sang sản xuất hàng tiêu dùng và hàng phục vụ xuất khẩu đã tạo chuyển biến trong cơ cấu nội bộ của ngành công nghiệp chế biến Thành phố. Các ngành công nghiệp nhẹ và sản xuất hàng tiêu dùng chiếm 84% giá trị sản lượng công nghiệp chế biến. Những ngành có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trong giai đoạn 1991 – 1995 là may mặc (22%/năm), da giày (21%/năm), in (29%/năm), cao su và plastic (27%/năm), sản xuất xe có động cơ (271%/năm).

            Giai đoạn 2001 – 2010 : Đây là thời kỳ ngành công nghiệp Thành phố tăng trưởng tương đối cao, đa dạng, đa thành phần kinh tế, có sự chuyển đổi mạnh mẽ sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

            Công nghiệp Tp. Hồ Chí Minh giai đoạn này hầu như tất cả các ngành, các lĩnh vực đều có tốc độ tăng trưởng bình quân trên 2 con số. Cá biệt, có một số ngành tăng trưởng rất cao như công nghiệp chế biến 16,1%/năm và năm 2003 chiếm tỷ trọng 96,7% tổng giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn. Quy mô các lãnh vực sản xuất công nghiệp ngày càng lớn. Tổng giá trị sản xuất CN – TTCN Thành phố năm 2003 là 88,882 tỷ đồng gấp 6,21 lần so năm 1990; năm 2004 là 102.063 gấp 6,5 lần.

            Năm 2010, hầu hết các chỉ số phát triển công nghiệp thành phố đã có sự phục hồi so với cùng kỳ và đạt mức khá cao so với chỉ tiêu kế hoạch và cả nước. Tăng trưởng sản xuất công nghiệp diễn ra ở hầu hết các địa phương, các ngành và các thành phần kinh tế. Đặc biệt là mức tăng cao của các ngành công nghiệp trọng yếu, các thành phần kinh tế ngoài nhà nước, các địa bàn vùng ven, ngoại thành và vùng quy hoạch.

            Tháng 12/2010, giá trị sản xuất công nghiệp đạt 21.095 tỷ đồng (theo giá cố định 1994), tăng 2,4% so với tháng trước và 11,9% so với tháng 12/2009. Trong đó, tổng giá trị sản lượng công nghiệp thuộc các thành phần kinh tế trong nước chiếm 64,1%, tăng 16,1% so với tháng cùng kỳ (bao gồm: công nghiệp nhà nước đạt 4.306 tỷ, tăng 15,6%; công nghiệp ngoài nhà nước đạt 9.643 tỷ, tăng 16,3%) và giá trị của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 7.964 tỷ, chiếm 35,9% và tăng 13,6% so với tháng cùng kỳ. So với mức tăng bình quân (14,3%) của tháng 11 đầu năm, tăng trưởng công nghiệp tháng 12 năm 2010 đạt mức thấp so với tháng cùng kỳ.

            Theo giá thực tế, tổng giá trị sản xuất công nghiệp năm 2010 đạt 609.268 tỷ đồng (tăng 25,1% so với năm 2009); trong đó, sản xuất công nghiệp nhà nước đạt 71.381 tỷ đồng, chiếm 12,1%, công nghiệp ngoài nhà nước (đạt 281.382 tỷ đồng) chiếm 47,8% và công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (đạt 235.902 tỷ đồng) chiếm 40,1% trong cơ cấu sản xuất công nghiệp thành phố. So với năm 2009, cơ cấu ngành công nghiệp cũng có sự khác biệt rõ nét. Cụ thể, ngành công nghiệp thành phố năm 2010 có sự đóng góp lớn của bốn ngành công nghiệp trọng yếu (59,4%), của các thành phần kinh tế ngoài nhà nước (47,8%) và của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (40,1%).

            Thực hiện Nghị quyết 22/2010/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân thành phố, trong năm 2011 chỉ tiêu sản xuất công nghiệp phải đạt mức tăng trưởng tối thiểu từ 10,6% trở lên, tương ứng với mức 65.022 tỷ đồng (giá 1994); nếu tính theo giá thực tế sản xuất công nghiệp tạo ra 191.216 tỷ đồng giá trị gia tăng, tăng 20% so với 2010. Theo đó, ngành công nghiệp thành phố phấn đấu đạt quy mô giá trị sản xuất khoảng 237.616 tỷ đồng (theo giá 1994), tăng 13,5% so với năm 2010. Tính theo giá thực tế, giá trị sản xuất năm 2011 tăng 23,1% so với năm nay và đạt mức 750.000 tỷ đồng. Trong đó, bốn ngành công nghiệp trọng yếu: cơ khí chế tạo, điện tử - công nghệ thông tin, hóa chất, chế biến tinh lương thực, thực phẩm phấn đấu đạt giá trị sản lượng 142.769 tỷ đồng, tăng bình quan 15,0% so với mức thực hiện 2010. So với giá hiện hành, sản xuất công nghiệp đạt giá trị 450.807 tỷ đồng, tăng 24,7% so với quy mô hiện tại. Tỷ trọng bốn ngành công nghiệp trọng yếu đạt tối thiểu 60% trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp thành phố.

 

 

TH (nguồn Sở Công Thương Tp.HCM)


Quảng cáo